Vị thuốc HẮC TÍCH (Duyên chì)

 Tên tiếng Hán: 黑鉛

Tên dùng trong đơn thuốc: Duyên, Hắc tích.

Bào chế: Dùng chiếc soong sắt có chuôi, đun chảy chì ra, rót lên hòn ngói, gạn bỏ cặn, làm mấy lần như vậy thì thạnh tro hằc tích, lấy dùng làm bột chì.

Tính vị quy kinh: Hắc tích vị ngọt, tính hàn, vào kinh thận, kiêm vào kính can.

Công dụng: Giáng khí nghịch, hạ đờm rãi.

Chủ trị: Chữa thận dương hư, dương bốc lên, thận không nạp khí, suyễn thở đờm khò khè, và các chứng nghẹn, phản vị, nôn mửa choáng váng, do khí bốc lên, không giáng được.

Ứng dụng và phân biệt: Chì là thủy tổ của ngũ kim, thể chất nặng, màu đen, sức đè nặng (trọng trấn) vào thận rất mạnh. Duyên đơn tức Hoàng đơn, bột nhỏ mịn tươi mát màu vàng, đắp ở ngoài tiêu sưng, trừ độc mọc da non, thuốc cao đan khoa ngoại dùng nhiều. Bột chì màu trắng, uống trong có thể sát trùng, càng có thể chữa được ung nhọt vỡ loét.

Kiêng kị: Thuốc thuộc loại kim thạch dễ trúng độc, khidùng phải kiểm tra thận trọng.

Liều lượng:Thuốc đơn, thuốc hoàn dùng để uống trong mỗi lần từ 3-5 phân, dùng ở ngoài không kể liều lượng.

Bài thuốc ví dụ: Bài Hắc tích đơn (Thái bình huệ dân hòa tễ cục phương) chữa tỳ nguyên lạnh lâu ngày, trên thực dưới hư, đờm ẩm hư suyễn.

Hắc tích, Lưu hoàng, Hồ lô ba, Trầm hương, Phụ tử, Nhục quế, Hồi hương, Phá cố chỉ, Nhục đậu khấu, Mộc hương, Kim linh tử, dương khởi thạch.

Trừ Hắc tích chế riêng ra còn lại các vị cùng tán thật mịn, rồi trộn vớí bột hắc tích, cho men rượu vào nấu với hồ, trộn với thuốc làm viên to như hạt ngô, phơi khô trong râm, mỗi lần uống từ 8 đến 5 phân, uống vào lúc đói với nước muối nhạt làm thang.

Tham khảo: Bài Hắc tích đơn chữạ hen suyễn thuộc thận dương hư có hiệu quả đặc biệt, càng để lâu càng tốt, là một trong những thuốc viên được dự trữ sẵn để dùng.

 

Theo: Đông dược thiết yếu – Viện Nghiên Cứu Trung Y

Bộ Y tế nước Công hòa Nhân Dân Trung Hoa

Người dịch : Lương y Trần Văn Quảng

Hiệu đính : Lương y Vũ Xuân Quang

Trung Ương Hội Đông Y Việt Nam

Leave a Reply